DANH NHÂN TRUYỀN THUYẾT, DANH NHÂN VĂN HOÁ THANH HÓA

I/Danh nhân truyền thuyết
1/Chúa Chổm
Tên truyền thuyết của vua Lê Anh Tôn (1556 – 1573), đồn rằng ông vua này thuở hàn vi nợ tiền rượu chè kinh khủng nhưng lại đem lại điều may mắn cho những người đi chợ, bán hàng, chúa Chổm người Cầu Bố nay thuộc thành phố Thanh Hoá. 
2/Xiển bột
Hậu duệ hài hước của Trạng Quỳnh, sống vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Thọ Xuân. 
3/Liễu Hạnh hay Chúa Liễu
Theo truyện truyền kỳ của Ðoàn Thị Ðiểm, Liễu Hạnh đầu thai vào nhà ông Lê Thái ở Vụ Bản, Nam Ðịnh, lấy chồng có con, hết hạn đầy về trời. Nhưng nàng lại trở lại hạ giới ngao du sơn thuỷ và cứu nhân độ thế. 
4/Mai An Tiêm
Thời Hùng Vương, Mai An Tiêm đã cùng vợ con cải thiện đảo hoang nơi bị đầy ải để tồn tại và phát triển, người nhân giống cây dưa hấu đầu tiên ở nước ta. Núi có sự tích Mai An Tiêm hiện ở Nga Thiện – Nga Sơn.
5/An Dương Vương
Vua nước Âu Lạc, mất ở Nghi Sơn, nơi ông theo thần Kim Qui xuống biển.
6/Mỵ Châu – Trọng Thuỷ
Con gái và con rể của An Dương Vuơng. Mỵ Châu chết ở núi Ngọc úc. Trọng Thuỷ chết ở một cái giếng ở dưới chân núi Ngọc úc. Giếng này nhờ đó mang tên Ngọc Tiễn (rửa ngọc). Tất cả đều ở vùng Nghi Sơn – Hải Thượng (Tĩnh Gia-TH)
7/Từ Thức
Người đời nhà Trần, quê ở Hà Trung, đã lên tiên giới ở do một tiên cô là Giáng Hương chỉ dẫn. Ðộng tiên nơi Từ Thức đi vào nay ở xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn
8/Chân Nhân (núi Nưa), Hồ Công (Vĩnh Lộc)
Chân Nhân (núi Nưa), Hồ Công (Vĩnh Lộc) là những đại diện cho đạo tu tiên có nhiều phép thuật, hiện di tích còn ở núi Nưa (Triệu Sơn-TH), động Hồ Công (Vĩnh Lộc-TH)
9/Trạng Quỳnh
Ông tổ hài hước diễu cợt thần quyền, vương quyền và thói ỷ thế nước lớn áp chế nước nhỏ thời vua Lê chúa Trịnh, do nhân dân thêu dệt ra từ một nhân vật có thật là Nguyễn Quỳnh ở Hoằng Hoá TH.

II/Danh nhân văn hoá-lịch sử
1/Lê Thị Hoa (TK I)
Quê ở xã Nga Thiện (Nga Sơn-TH), là một nữ tướng tài ba của Hai Bà Trưng. Bà đã cùng 4 người con tham gia khởi nghĩa và đã lập được nhiều công tích.
2/Bà Triệu (226 – 248)
Quê ở vùng núi Quân Yên, xã Ðịnh Công (Yên Ðịnh-TH). Năm 20 tuổi, cùng anh là Triệu Quốc Ðạt dựng cờ khởi nghĩa chống giặc Ngô. Khi Triệu Quốc Ðạt mất, nghĩa quân tôn bà làm thủ lĩnhvà bà tiếp tục kháng chiến. Cuộc khởi nghĩa đã lan ra Giao Chỉ và vào tận Cửu Ðức, Nhật Nam và làm rung động cả Trung Quốc. 
3/Lương Ðắc Bằng (1472 – ?)
Người làng Hội Trào, huyện Hoằng Hoá-TH. Lúc bé đã nổi tiếng thần đồng, năm 27 (hoặc 28) tuổi đỗ hội nguyên, thi đình đỗ nhất giáp tiến sĩ, tên thứ 2 (tức bảng nhãn). Ông làm quan đến thượng thư Bộ lại, được tham dự triều chính, tước Ðôn Trung Bá. Ông còn là nhà giáo mẫu mực, là thầy dạy của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đào tạo nhiều nhân tài học thức cho xứ Thanh và đất nước. 
4/Hoàng Ðình ái (1527 – 1607)
Quê ở Biện Thượng huyện Vĩnh Lộc, có công lao lớn trong cuộc trung hưng nhà Lê: bắt sống đại tướng Nguyễn Quyện, lấy lại Ðông Kinh. 
5/Phạm Bành (1825 – 1887)
Quê ở làng Trương Xá, xã Hoà Lộc (Hậu Lộc-TH), đỗ cử nhân năm 1864, công Ðinh Công Tráng xây dựng căn cứ và là một trong những lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Ba Ðình. 
6/Nguyễn Hữu Dật (1604 – 1681)
Quê ở Gia Miêu, xã Hà Long huyện Hà Trung-TH, là một trong những trụ cột của chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên). Ðược giao làm bố chánh Quảng Bình. Ông có tài về chiến lược quân sự và văn thơ. Mất được truy tặng Chiêm quận công.
7/Nguyễn Chích (1382 – 1448)
Quê ở Ðông Ninh, Ðông Sơn. Ông xây dựng và lãnh đạo căn cứ Hoàng Nghiêu chống giặc Minh, khi Lê Lợi khởi nghĩa, ông đem nghĩa quân Hoàng Nghiêu theo. Ông là một tướng lĩnh tài ba, đã đề xướng kế hoạch đánh vào Nghệ An thắng lợi, làm thay đổi tình thế nghĩa quân, mở đầu cho thắng lợi liên tiếp và thắng lợi cuối cùng của nghĩa quân Lam Sơn.
8/Lưu Ðình Chất (1566 – 1627)
Người làng Quì Chử, Hoằng Hoá, là con công thần Lâm quận công Lưu Ðình Thưởng. Năm 42 tuổi ông mới thi đỗ nhị giáp tiến sỹ, mùa Hè, Quí Mùi (1623), Trịnh Xuân gây biến ông giúp Thanh Vương (Trịnh Tráng) dẹp loạn. Vì có công và tài giỏi nên vào phủ làm tham tụng, tiến lên thượng thư bộ hộ, thiếu bảo, tước Phúc quận công. Năm Ðinh Mão (1627) ông mất, thọ 62 tuổi, được truy tặng thiếu sư.
9/Hồ Nguyên Trừng
Con trai Hồ Quí Ly, là nhà sáng chế kỹ thuật quân sự tài giỏi. Cuộc kháng chiến chống Minh thất bại, cha con ông bị bắt đưa về Trung Quốc, ở đây ông chế được nhiều loại đại bác. Làm quan đến Công bộ thượng thư. Ông còn viết sách, làm thơ với tác phẩm tiêu biểu như “Nam ông mộng lục”, tỏ rõ lòng nhớ quê hương đất nước của mình.
10/Phạm Vấn (?- 1435)
Quê ở Nguyên Xá (Ðông Sơn). Tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ năm 1416, có công lao trong các trận Bồ Mộng, Bồ Đằng, giải phóng thành Nghệ An… Ông là một trụ cột của triều đình vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, với ngôi tể tướng. Mất, truy tặng Thái phó, năm 1484 truy phong Trấn quận công.
11/Ðinh Củng Viên (?- 1294)
Quê ở huyện Ðông Sơn, là một nhà ngoại giao tài giỏi dưới đời Trần Thánh Tông (1258 -1278), khi mất được phong tặng chức Thái phó
12/Hoàng Bật Ðạt (1842 – 1887)
Là một trong những người chỉ huy tài giỏi, kiên cường của nghĩa quân Ba Ðình trong phong trào Cần Vương chống Pháp
13/Trịnh Thị Ngọc Trúc (?)
Là con gái Trịnh Tráng, là chính cung hoàng hậu của vua Lê Thần Tông (1619 – 1643). Người ta cho rằng bà là tác giả bộ từ điển Hán – Nôm cổ nhất của nước ta “Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa”
14/Trịnh Duy Thuân (? – 1542)
Người sách Thuỷ Chú, huyện Lôi Dương (Thọ Xuân ngày nay), là cháu công thần An Quốc công Trịnh Khắc Phục. được phong Lỵ Quốc công, trấn giữ Thanh Hoá (1522) khi Mạc Ðăng Dung cướp ngôi nhà Lê (1527), ông là người bảo vệ che chở hoàng tử Lê Duy Ninh và cùng với chiêu huân công Nguyễn Kim sắm sửa binh lương, chiêu tập hào kiệt mở đầu cuộc trung hưng nhà Lê, việc chưa thành, ông mất năm 1542.
15/Cầm Bá Thước (1853 – 1895)
Quê ở Trịnh Vạn, Thường Xuân, Thanh Hoá. Năm 1895, phong trào Cần Vương của nhân dân Thanh Hoá phát triển mạnh mẽ, ông lãnh đạo nhân dân lập căn cứ Trịnh Vạn tổ chức chống Pháp. Ông được Tôn Thất Thuyết phong cho chức Tán tướng quân vụ, và tiến hành các trận đánh đồn Po Lẹ, đồn Cửa Đặt… gây cho Pháp nhiều thiệt hại. Bị sa vào tay giặc, ông không khai nửa lời, hy sinh anh dũng.
16/Nguyễn Mậu Tuyên (1518-1599)
Người làng Thịnh Mỹ, huyện Lôi Dương (Thọ Xuân ngày nay), dòng dõi công thần (cháu Thúc quốc công Nguyễn Nhữ Lãm). Ông học sâu, hiểu rộng, làm quan đến tể tướng, mẫu mực khuôn phép cho trăm quan. Làm quan tới Thiếu phó Quỳnh quận công. Mất truy tặng Thiếu sư
17/Nguyễn Thu (1799 – 1855)
Còn có tên là Nguyễn Bão, quê xã Nông Trường (Triệu Sơn), đậu cử nhân năm 1821, làm án sát và tham dự biên soạn “Thực lục tiền biên”, sau thăng Thị lang Hộ bộ. Ông đă để lại 17 tác phẩm lịch sử, triết học, thơ văn như Lê Quí ký sự, Việt Thi tục biên,…
18/Trịnh Tùng (1546 – 1623)
Người kế tục sự nghiệp của cha là Trịnh Kiểm và hoàn thành sự nghiệp trung hưng nhà Lê. Ông là Chúa thứ 2 dòng chúa Trịnh, ở ngôi chúa 54 năm và thiết lập nên thể chế nhà nước mới: vua-chúa ở Việt Nam
19/Nguyễn Mộng Tuân (TK XV)
Quê ở xã Ðông Anh (Ðông Sơn-TH). Năm 1400, đậu thái học sinh và tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, lập được nhiều công lớn. Dưới thời vua Lê Nhân Tông, ông được cử đi đánh quân Chiêm Thành. Nguyễn Mộng Tuân còn là nhà thơ với các tác phẩm Cúc Pha thi tập, Chí Linh sơn phú,..
20/Trịnh Tuê (còn gọi là Trịnh Huê) ( 1704 – ?)
Quê ở Biện Thượng, nay thuộc xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc (trú quán ở xã Bất Quần, nay là Quảng Thịnh, Quảng Xương). Ông đỗ Trạng nguyên khoa Bính Thìn (1736) đời Lê ý Tông. Ðây là người được phong trạng nguyên cuối cùng của nước ta. Ông từng giữ chức Tham Tụng, Thượng thư bộ Hình, Tế tửu (hiệu trưởng) Quốc tử giám. Khi mất được tặng Hữu thị lang
21/Ðào Duy Từ (1572 – 1634)
Quê làng Hoa Trai, xã Nguyên Bình (Tĩnh Gia). Ông là một trong những vị khai quốc công thần nhà Nguyễn, một nhà quân sự, ngoại giao, văn hoá tài giỏi. Ông đã có công giúp nhà Nguyễn mở mang kinh tế, giữ yên lãnh thổ, được phong tước Lộc Khê hầu và thờ trong Thái Miếu, ông là tác giả của tác phẩm Hổ trướng khu cơ, Ngoạ Long cương Vãn, Tư Dung vãn… 
22/Lê Bật Tứ (1562 – 1627)
Quê ở xã Tân Ninh (Triệu Sơn). Năm 1598, đậu tiến sĩ. Năm 1619, được phong chức thượng thư bộ binh, rồi Tham tụng, ông còn là một nhà ngoại giao tài giỏi, một vị quan chính trực, nhiều lần khuyên chúa Trịnh trị tội bọn gian thần
23/Nguyễn Ðôn Tiết (1836 – ?)
Quê ở xã Hoằng Ðức (Hoằng Hoá) đậu phó bảng năm 1879. Năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần vương, ông đă mộ quân phối hợp với nghĩa quân Hoàng Bật Ðạt tấn công đồn Pháp ở Bút Sơn. Sa vào tay giặc (1886), ông bị đầy đi tù ở Lao Bảo và hi sinh ở đấy
24/Lê Thánh Tông (1442 – 1497)
Lê Thánh Tông sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhân Tuất (1442) huý là Tư Thành, là con thứ tư vua Lê Thái Tông và Hoàng hậu Ngô Thị Ngọc Dao; là cháu nội vua Lê Thái Tổ, mất ngày 30 tháng 12 năm Ðinh Tỵ ( 1497). Năm 1460, ông lên ngôi vua trị vì được 38 năm với hai niên hiệu: Quang Thuận (1460 – 1469) và Hồng Ðức (1470 – 1497). Ông là nhà cải cách lớn trong lịch sử Việt Nam . Bộ luật thành văn đầu của nước ta, được soạn dưới thời ông. Ông là người sáng lập hội Tao Ðàn, để lại nhiều tập thơ, 1 tập truyện ký và rất nhiều bài viết đặc sắc trong các tập Hồng Ðức thi tập, Thánh Tông di cảo…
25/Lê Trạc Tú (?)
Người làng Thượng Cốc, huyện Lôi Dương (Thọ Xuân ngày nay), ông nội là Tán Thiện, chú là Tán Tương cùng đỗ tiến sĩ khoa Kỷ Mùi (1499), ông đỗ Ðệ nhất giáp chế khoa, khoa Ðinh Sửu (1577), khi làm Thượng thư bộ lại và Tể tướng ông cất nhắc người hiền tài, ông sống ngay thẳng, trong sạch, trong nhà không có của dư.
26/Lê Tắc (TK XIV)
Quê ở Ðông Sơn, theo Trần ích Tắc hàng giặc Nguyên và làm quan Phụng nghị đại phu ở Hán Dương (Trung Quốc). ở Trung Quốc, ông đă hoàn thành bộ An Nam chí lược gồm 20 cuốn nói về lịch sử Việt Nam từ thượng cổ đến đời Trần
27/Tống Duy Tân (1837 – 1892)
Ông quê ở xã Vĩnh Tân (Vĩnh Lộc). Ông đậu tiến sĩ năm 1875, làm tri huyện Vĩnh Tường, án sát Sơn Tây, chánh sứ sơn phòng Quảng Hoá. Năm 1886, ông cùng con là Tống Nhữ Mai lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh. Ông cùng Phạm Bành, Hoàng Bật Ðạt, Trần Xuân Soạn… lãnh đạo nghĩa quân Ba Ðình, ông đã bị giặc Pháp bắt tại hang Niên Kỷ (Bá Thước) và hi sinh tại thị xã Thanh Hoá năm 1892
28/Trần Hạng (1372 – 1399)
Quê ở xã Vĩnh Thành (Vĩnh Lộc), đậu Thái học sinh và có công trong cuộc kháng chiến chống quân Chiêm Thành của quân dân nhà Trần
29/Cao Ðiển (1853 – 1896)
Quê ở làng Trinh Sơn, xã Hoằng Giang, Hoằng Hoá. Ðược Tôn Thất Thuyết cử chỉ huy trận tấn công vào sứ quán và đồn binh Pháp ở Huế. Sau đó về Thanh Hoá cùng Tống Duy Tân xây dựng căn cứ Hùng Lĩnh (Vĩnh Lộc) chống Pháp. Trên đường ra Bắc liên lạc với nghĩa quân Yên Thế của Hoàng Hoa Thám, ông bị Pháp bắt tại thị xã Bắc Giang và xử chém tại thị xã Thanh Hoá.
30/Ðại Thặng Ðăng (Pháp danh) (TK VIII)
Người Thanh Hoá, có tên Phạn là Mahayana Pridipa, uyên thâm phật học, đến Trung Quốc, ấn Ðộ nghiên cứu và truyền đạo, chú giải kinh phật. Ông mất tại chùa Niết Bàn (ấn Ðộ), thọ 60 tuổi.
31/Nguyễn Hiệu (1664 – 1735)
Là người làng Lan Khê, Nông trưởng, Triệu Sơn năm 27 tuổi đỗ hội nguyên, thi đỗ đồng tiến sĩ. Ông là người tài giỏi, trung hậu và ngay thẳng nên được trọng dụng, làm quan đến thượng thư rồi tể tướng. Khi mất (1735) được triều đình truy tặng thái bảo, đại tư đồ, gia phong làm phúc thần.
32/Lê Hy (1646 – 1702)
Quê ở xã Ðông Khê, Ðông Sơn. Năm 1664 đỗ tiến sĩ. Tài năng của ông được các chúa Trịnh tin dùng, cử đi sứ Trung Quốc được phong chức thượng thư bộ binh rồi thăng Tham tụng (Tể tướng) tước Lai sơn bá. Ông là nhà viết sử nổi tiếng với tác phẩm Bản kỷ tục biên do ông chủ biên.
33/Nguyễn Hữu Hào (1647 – 1713)
Quê ở làng Gia Miêu, Hà Long, Hà Trung. Có công lớn với chúa Nguyễn trong các cuộc giao tranh với chúa Trịnh, được phong chức cai cơ, chưởng cơ rồi chức trấn thủ Quảng Bình…, ông còn sáng tác truyện thơ nôm Song tinh bất dạ lưu truyền rộng rãi trong nhân dân. Khi mất truy tặng Ðôn hậu công thần trấn phủ.
34/Lê Hoàn (941 – 1005)
Quê xã Xuân Lập, Thọ Xuân, từ một người lính bình thường, ông đã lập được nhiều chiến công, được Đinh Bộ Lĩnh giao cho làm Thập đạo tướng quân tổng chỉ huy quân đội. Năm 980, trước sự xâm lược của quân Tống, ông được quân sĩ và triều đình Hoa Lư tôn làm Hoàng đế. Ông đã tổ chức quân dân Ðại Việt hoàn thành cuộc kháng chiến chống Tống. Ông là nhà ngoại giao tài giỏi, có công lớn trong mở mang kinh tế, phát triển nông nghiệp, giữ yên bờ cõi đất nước
35/Lê Phụng Hiểu (? – ?)
Là người hương Băng Sơn, Châu Ái (nay là xã Hoằng Sơn, huyện Hoằng Hoá). Ông khỏe mạnh hơn người, võ nghệ cao cường, Lý Thái Tổ dùng làm vũ vệ tướng quân. Khi Thái Tổ mất, các vương gây biến, ông đánh dẹp, tôn Thái Tông lên ngôi, giữ yên triều Lý. Ðược phong Ðô thống thượng tướng quân, tước hầu. Ông còn có công lao lớn trong việc dẹp giặc Chiêm Thành giữ yên bờ cõi phía Nam. Khi chết được phong làm phúc thần
36/Lê Văn Hưu (1230 – 1322)
Quê ở xã Thiệu Trung, Thiệu Hoá. Năm 1247, thi đỗ bảng nhăn. Năm 1272, làm hàn lâm viện học sĩ kiêm quốc sử viện quán tu và hoàn thành bộ sử Ðại Việt sử ký gồm 30 quyển. Ông không chỉ là nhà viết sử lỗi lạc đầu tiên của nước nhà mà còn là nhà quân sự với chức thượng thư bộ binh kiêm chưởng sử, tước Nhân uyên hầu
37/Nguyễn Hoàng (1524 – 1613)
Là con trai thứ hai của Hưng Quốc công – Nguyễn Kim, vào trấn thủ Thuận Quảng, mở đầu cho sự nghiệp của các chúa Nguyễn với vương triều Nguyễn.
38/Nguyễn Hoàn (1713 – 1791)
Quê ở làng Lan Khê, xã Nông Trường (Triệu Sơn). Năm 1743, đậu tiến sĩ, thăng chức lại bộ thượng thư. Năm 1777 được thăng chức thái phó, quốc lão… Không những là một vị quan to trong triều, ông còn biên khảo những tác phẩm lịch sử như Quốc sử tục biên, Ðại Việt đăng khoa lục…cùng với một số tác giả khác
39/Lương Hữu Khánh (TK XVI)
Quê ở làng Hội Triều, nay là xã Hoằng Phong, Hoằng Hoá. Ông đậu cử nhân năm 12 tuổi, đậu thứ 2 thi hội, không thi đình dưới triều Mạc Ðăng Doanh. Ông có công trong việc khôi phục nhà Lê, được thăng tới thượng thư bộ binh, tước Đạt quận công. Ông đă để lại các tác phẩm như Quan sử, Tân quan văn kê phú… 
40/Trịnh Khả (1399 – 1451)
Người làng Kim Bôi xã Vĩnh Hoà, Vĩnh Lộc. Ông là một trong 18 người có mặt trong hội thề Lũng Nhai năm Bính Thân (1416). Khi Lê Lợi vây thành Nghệ An, ông cùng Lê Văn Linh được cử làm tướng văn, tướng võ. Cùng với Lê Triện, Ðinh Lễ đánh tan 5 vạn quân của Vương Thông ở Ninh Kiều, chặn đứng 2 vạn quân của Mộc Thạnh ở ải Lê Hoa. Ông được phong tới chức Nhập nội thái uý, bình chương quân quốc trọng sự, thượng trụ quốc, được ban kim ngư trang kim phù, tước Quốc thượng hầu. Tháng 9 năm thứ 9 (1451), đời vua Lê Nhân Tông, ông cùng con là Trịnh Bá Quát bị hại, vì có kẻ gièm pha với Thái hậu là cha con ông làm phản. Năm thứ 11 (1553), Lê Nhân Tông coi việc triều chính khôi phục lại quan tước cho ông. Ðời Thánh tông truy phong Hiển khánh vương.
41/Hà Tông Huân (1697 – 1790)
Người làng Kim Thành, huyện Yên Ðịnh, năm 28 tuổi đỗ bảng nhãn. Ông là người thông minh, tài trí được trọng dụng, ra vào phủ chúa bàn việc quân quốc cơ yếu, làm đồng tham tụng rồi nhập chính tham tụng, kiêm việc ở Quốc tử giám. Khi về hưu vẫn được vời ra làm bậc ngũ lão, được gia thăng thiếu bảo, tước Huy quận công, khi mất được tặng hàm thái phó.
42/Lê Ðình Kiên (1620 – 1704)
Quê làng Thiết Ðinh, xã Ðịnh Tường (Yên Ðịnh-TH). Ông có công trong việc xây dựng phố Hiến (Hưng Yên) thành một trung tâm buôn bán lớn của đất nước. Ông là nhà ngoại giao, ngoại thương tài năng, góp phần quan trọng vào việc mở mang đất nước
43/Nguyễn Kim (? – 1545)
Là người Gia Miêu, huyện Tống Sơn (Hà Trung ngày nay), là người khởi xướng và lãnh đạo công cuộc trung hưng nhà Lê. Sự nghiệp chưa thành, ông bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc, mất năm 1545. Ông đă sáng suốt nhìn nhận và giao quyền lực lại cho con rể là Trịnh Kiểm trước khi mất. Ông là người mở nghiệp cho dòng chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn.
44/Lê Khôi (?- 1446)
Người Lam Sơn, huyện Thuỵ Nguyên (Thọ Xuân ngày nay), là cháu gọi Lê Lợi bằng chú ruột và là một trong những người đầu tiên đứng dưới cờ nghĩa Lam Sơn. Ông lập được nhiều công lớn: đánh thắng trận Khả Lưu, hạ thành Xương Giang…; bình Chiêm mở mang bờ cõi, dẹp nội loạn Bế Khắc Thiệu, Nông Ðắc Thái, nhiều lần đánh thắng Ai Lao, giữ vững biên ải quốc gia. Ông có nhiều kế sách trị bình, lấy đức và chính làm đầu, dân được bình yên. Ông là người có công to, đức lớn, tài cao, nên các triều vua Lê (Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông) đều tin dùng, cho tham dự việc triều chính. Mất truy tặng Thái uý Tam quốc công.
45/Trịnh Kiểm (1503 – 1570)
Quê làng Sóc Sơn, Vĩnh Hùng, Vĩnh Lộc. Ông là người có công lớn trong sự nghiệp trung hưng nhà Lê. Ông là người mưu lược đã cùng tướng sĩ đánh lui 5 đợt tấn công của nhà Mạc, bảo vệ vững chắc Thanh Hoá. Ông cũng đă hết sức chăm lo triều chính, lập chế độ thuế khoá, khuyến khích nghề nông, mở rộng thi cử để chọn nhân tŕi… Ông là ông tổ của dòng chúa Trịnh.
46/Nhữ Bá Sĩ (1787 – 1867)
Người làng Cát Xuyên (Hoằng Cát, Hoằng Hoá), đỗ cử nhân năm 1821, xin cáo quan về quê dạy học, sau đó ông mưu việc chống Pháp, việc chưa thành thì mất. Ông là người có học vấn uyên thâm, viết sách về giáo dục, văn hoá, lịch sử… tiêu biểu nhất là tác phẩm Việt sử tam bách vịnh, Thanh Hoá tỉnh chí.
47/Trần Xuân Soạn (1849 – 1923)
Quê ở làng Thọ Hạc, TP Thanh Hoá, do chiến công làm tới Ðề đốc năm 1885, ông được phái kháng chiến trong triều đình Huế giao chức đề đốc quân vụ cùng Tôn Thất Thuyết tổ chức chống Pháp. Khi về Thanh Hoá, ông cùng các lãnh tụ nghĩa quân lập căn cứ Ba Đình, Mã Cao… và được giao nhiệm vụ đóng quân ở Thạch Thành hỗ trợ cho Ba Ðình. Ông mất tại Long Châu (Trung Quốc).
48/Nguyễn Chích (1382-1448):
Danh tướng, khai quốc công thần thời Hậu Lê, quê Thanh Hoá. Xuất thân từ cảnh nghèo khổ nhưng vốn mạnh mẽ, linh hoạt, nồng nàn yêu nước, ông chiêu tập hàng ngàn người trong vùng, xây đồn đắp luỹ làm căn cứ kháng chiến chống giặc Minh. Sau đó, đem quân phò giúp Lê Lợi cho đến khi khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng năm 1427. Tận tụy phục vụ 3 đời vua Lê (Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông), ông xứng danh đại thần với chức Tổng quản, lừng lẫy với những chiến công đánh quân Minh phía Bắc, giặc Chiêm Thành phương Nam và dẹp yên nhiều cuộc phản loạn nội bộ.
49/Lê Tư Thành (1442-1497): Vị vua xuất sắc nhất thời Hậu Lê, hiệu Thánh Tông, quê Thanh Hoá. Thông tuệ, phong nhã, tài đức vẹn toàn, được các cận thần đưa lên ngôi năm 18 tuổi. Với những cải cách toàn diện và phát triển vượt bậc về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, giai đoạn ông cầm quyền (1460-1497) được coi là thời kỳ thịnh vượng nhất của chế độ phong kiến Việt Nam. Ông còn là nhà thơ lớn, lập ra hội thơ Tao Đàn danh tiếng và để lại nhiều tác phẩm giá trị: Hồng Đức quốc âm thi tập, Cổ tân bách vịnh, Văn minh cổ suý, Xuân vân thi tập… 
50/Nguyễn Phúc NguyênSinh năm Quý Hợi 1563, quê gốc Thanh Hóa, chúa thứ hai nhà Nguyễn. Thông minh, năng động, từng trải, nhiệt tình giúp cha khởi nghiệp và năm 1624 kế vị ngôi chúa. Nhân từ, cẩn thận lại mềm mỏng, khéo léo, ông thu hút nhiều người tài và được dân chúng mến yêu gọi là chúa Phật, chúa Sãi. Nhờ ông mà bờ cõi phương Nam được mở rộng, thế lực họ Nguyễn lớn mạnh và đối trọng được với chúa Trịnh ngoài Bắc, góp phần tạo dựng Vương triều Nguyễn sau này 

Leave Comments

Scroll