Chúng minh Chúa hiệu hữu

1. Blaise Pascal (1623-1662)

Lập luận của Pascal đánh cược vào Thiên Chúa theo Xác suất toán học

· Thiên chúa chỉ có thể hoặc hiện hữu hoặc không hiện hữu, nghĩa là xác suất cho mỗi bên là 50%.

· Nếu chúng ta tin Thiên chúa và nếu Ngài hiện hữu, chúng ta sẽ nhận được phần thưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên thiên đàng; còn nếu Ngài không hiện hữu, chúng ta sẽ chẳng thiệt thòi hay mất mát gì.

· Nếu chúng ta không tin Thiên chúa mà Ngài lại hiện hữu, chúng ta sẽ bị phạt đời đời kiếp kiếp trong địa ngục; còn nếu đúng Ngài không hiện hữu như chúng ta tin, chúng ta sẽ chẳng được gì hơn.
· Thà chúng ta có cơ may nhận phần thưởng hạnh phúc vĩnh cửu thiên đàng hơn là rủi ro bị phạt đời đời kiếp kiếp trong địa ngục.

· Nếu đem so sánh các điều lợi hại của việc tin hay không tin thì người khôn ngoan, cẩn trọng, biết hành xử theo lý trí đương nhiên chấp nhận tin Thiên chúa hiện hữu.

https://sachhiem.net/TTL/TranTL01.php

 

2. William Lane Graig (1949)

Nhà Triết học, Thần học Kito giáo người Mỹ với lập luận cho sự tồn tại của Chúa. Lý luận này đặt trên tam đoạn luận gồm 3 điểm đơn giản sau đây:

(1). Mọi sự có khởi đầu hiện hữu đều phải có một nguyên nhân.

(2). Vũ trụ hiện hữu.

(3). Do đó, vũ trụ phải có một nguyên nhân.

https://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=861

 

3. Anselm (1033-1109)

Ông là tổng giám mục, Lập luận chủ yếu trong Proslogium của Anselm có thể tóm tắt một cách giản lược bằng ngôn ngữ thời nay như sau:

1/ Định nghĩa: Chúa là thực thể lớn nhất có thể hình dung được, không có thực thể nào có thể hình dung được mà lớn hơn Chúa.
Ký hiệu G là Chúa, x là một thực thể bất kỳ, thì G ≥ x với mọi x.

2/ Tiền đề: Một thực thể vừa tồn tại trong tư tưởng vừa tồn tại trong thực tế ắt phải lớn hơn thực thể ấy khi nó chỉ tồn tại trong tư tưởng.
Ký hiệu x(m,r) là thực thể x vừa tồn tại trong tư tưởng vừa tồn tại trong thực tế và x(m) là thực thể ấy chỉ tồn tại trong tư tưởng, ta có: x(m,r) > x(m)

3/ Hệ quả: Nếu G(m,r) là thực thể lớn nhất tồn tại cả trong tư tưởng lẫn trong thực tế và G(m) là thực thể lớn nhất chỉ tồn tại trong tư tưởng, theo Tiên đề ở mục 2, ta phải có: G(m,r) > G(m)

4/ Biện luận: Giả sử Chúa chỉ tồn tại trong tư tưởng, tức là G = G(m). Theo định nghĩa của G ta có: G = G(m) > G(m,r).
Nhưng điều này mâu thuẫn với Hệ quả ở mục 3.

5/ Kết luận: Vậy Chúa không thể chỉ tồn tại trong tư tưởng.
Chúa ắt phải tồn tại cả trong tư tưởng lẫn trong thực tế, G = G(m,r), tức là Chúa tồn tại.

https://viethungpham.com/2014/09/17/godel-chung-minh-chua-hien-huu-godel-proved-that-god-exists/

1. Một sự vật hiện hữu cả trong tâm trí và thực tế thì lớn hơn khi nó chỉ ở trong tâm trí.

2. Thiên Chúa là “một hữu thể mà người ta không thể nghĩ được có một cái gì lớn hơn.”

3. Giả sử rằng Thiên Chúa hiện hữu trong tâm trí nhưng không có trong thực tế.

4. Lúc đó, một cái lớn hơn Thiên Chúa có thể được nghĩ đến (cụ thể là, một hữu thể có tất cả những phẩm chất mà tư tưởng về Thiên Chúa của chúng ta thêm vào sự hiện hữu thực sự).

5. Nhưng điều này là không thể, vì Thiên Chúa là “một hữu thể mà người ta không thể nghĩ được có một cái gì lớn hơn.”

6. Do đó Thiên Chúa hiện hữu trong tâm trí và trong thực tế.

 

4. Thánh Tôma Aquinnô (1225-1274)

Với năm con đường chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa (Ngũ Đạo)

1). Nguồn gốc đầu tiên của vận độngː Mọi chuyển động cần phải có động lực ban đầu nhưng cái đóng vai trò động lực, lực đẩy thì không nhất thiết phải ở trong chuyển động. Vì vậy, phải có một hữu thể là động lực của mọi vận động nhưng hữu thể đó không ở trong vận động.

“ Cần thiết phải dừng lại ở một đệ nhất động cơ nào không thể bị động bởi một động cơ nào khác và đệ nhất động cơ được mọi người hiểuu là Thiên Chúa ” — Thomas Aquinas

2). Nguyên nhân đầu tiênː Các nguyên nhân tác động trong thế giới không thể là vô cùng để mãi mãi đi từ nguyên nhân này đến nguyên nhân khác. Vì vậy, “nếu không có một nguyên nhân tác động làm giới hạn tuyệt đối cho chuỗi nguyên nhân tác động thì không thể có giới hạn cuối cùng hay giới hạn trung gian được”. Nguyên nhân đầu tiên thông qua nguyên nhân trung gian hoặc qua nhiều hơn một nguyên nhân trung gian để nối liến với nguyên nhân cuối cùng. Bởi vậy, nguyên nhân đầu tiên và nguyên nhân cuối cùng thực chất là một. Vì vậy, nếu xóa bỏ nguyên nhân đầu tiên thì cũng có nghĩa là xóa bỏ nguyên nhân cuối cùng. Và nếu không xác định được giới hạn đầu tiên cho các nguyên nhân tác động thì cũng chẳng có nguyên nhân trung gian nào cả. Nếu điều đó xảy ra thì chỉ là một thế giới chết, bất động mà thực tế thì thế giới sinh sôi nảy nở không ngừng. Vì thế, không thể không có nguyên nhân đầu tiên và nguyên nhân đó chính là Thiên Chúa.

3). Tính tất yếu đầu tiênː Các sự vật ở trạng thái ngẫu nhiên, vì thế “phải công nhận một hữu thể tự nó tất yếu, không phải và không cần có nguyên nhân cho sự tất yếu của nó ở bên ngoài bản thân nó. Tuy nhiên, nó lại là nguyên nhân tất yếu cho những cái khác. Hữu thể ấy mọi người gọi là Thiên Chúa.

4). Thang bậc hoàn hảo nhấtː Các sự vật trong thế giới hiện hữuu trong các mức độ hoàn thiện khác nhau, nên “phải có một cái gì tuyệt đối thiện, tuyệt đối thực, tuyệt đối đẹp và có giá tri, vượt trên tất cả, và do đó, hữu thể một cách tuyệt đối. Vì vậy, phải có một hữu thể làm nguyên nhân cho hữu thể cái thiện hoàn hảo và mọi cái hoàn hảo khác cho tất cả mọi sự vật; hữu thể đó chúng ta gọi là Thiên Chúa.”

5). Mục đích tối caoː Tính chất hợp lý của giới tự nhiên không thể giải thích bằng những nguyên nhân tự nhiên. Vì vậy, cần tồn tại một thực thể siêu lý trí tự nhiên điềuu chính thế giới.
“Những sự vật không có ý thức chỉ có thể quy hướng về một chủ đích với điều kiện, nhưng được hướng dẫn do một hữu thể nào có tri thức và thông minh như mũi tên của người xạ thủ. Vì vậy thiết yếu phải có một hữu thể thông minh nhờ đó tất cả mọi sự vật trong vũ trụ được quy hướng về một chủ đích. Hữu thể ấy ta gọi là Thiên Chúa.” — Thomas Aquinas

Nhiều học giả thế hệ sau cho rằng tính đồng kết của năm con đường chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa của Thomas Aquinas đều được xây dựng trên một nền tảng hiện sinh, trên cơ sở áp dụng tính tất yếu của mối liên hệ nhân quả. Trong đó, kết quả được xem là chứng ly đối chất để khẳng định sự hiện hữu của Chúa. Còn có thể có những nhận định, đánh giá khác nhau về cách chứng minh của ông, nhưng có lẽ dễ chấp nhận hơn cả là ý kiến của Gilson (“phải khởi đầu từ một hiện hữu, vì chỉ cần chấp nhận bất cứ một nguyên do nào hợp lý trong đời sống thường nhật thì cũng đủ chứng minh cho sự hiện hữu của Thiên Chúa”).

https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%B4ma_Aquin%C3%B4#%C4%90%E1%BB%A9c_tin_v%C3%A0_l%C3%BD_t%C3%ADnh[10]

 

6. Thiết kế luận (design argument) hay viễn đích luận (teleological argument) 

Thiết kế luận (design argument) hay viễn đích luận (teleological argument) được xem là một trong những luận chứng chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa phổ biến nhất, được nhiều người chấp nhận nhất. Luận chứng này vốn đã xuất hiện ngay từ thời của Plato với tác phẩm Timaeus. Về sau, nó trở thành con đường thứ năm trong Ngũ Đạo, năm con đường chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa, mà thánh Tôma Aquinnô đưa ra. Nhưng đến thời hiện đại, người trình bày luận chứng này tiêu biểu hơn cả chính là tác giả William Paley với sự loại suy về chiếc đồng hồ

   1). Thiết kế luận nói gì?
Paley bắt đầu luận chứng của mình như sau: Khi đi giữa một khu rừng hoang, giả như tôi thấy một hòn đá, và nếu có ai hỏi tôi hòn đá ấy xuất hiện ở đó thế nào. Tôi sẽ trả lời rằng nó vốn nằm đó một cách tình cờ do những nhân tố tự nhiên như hoạt động của núi lửa, nắng, mưa, gió, bão… đưa tới. Nhưng nếu tôi thấy một chiếc đồng hồ, tôi sẽ không thể trả lời như vậy. Bởi lẽ tôi thấy nơi chiếc đồng hồ ấy một sự tổ chức sắp xếp hết sức phức tạp của các bộ phận như bánh răng, trục lăn, lò xo… Tất cả cùng làm việc trong một trật tự để nhắm tới một mục đích là đo lường thời gian. Điều này không thể đến từ tự nhiên nhưng nhất thiết phải do một trí tuệ thiết kế, chế tạo ra.

Từ đây, Paley lập luận theo kiểu loại suy rằng: Thế giới của chúng ta cũng giống như một cỗ máy khổng lồ với những bộ phận được sắp xếp hoạt động phức tạp mà khi nhìn vào đó ta phải thừa nhận sự hiện hữu của Đấng Tạo Hóa. Từ sự chuyển động theo quỹ đạo của các hành tinh, sự xoay vần nhịp nhàng của thời tiết, mùa màng, ngày đêm, đến hệ thống cấu tạo vận hành nơi các bộ phận, tế bào trong cơ thể con người và những sinh vật, thực vật sống trên mặt đất…  Tất cả những điều đó không thể là một sự ngẫu nhiên nhưng cho thấy phải có một trí tuệ đằng sau thiết kế, sắp đặt và điều hành mọi sự, trí tuệ ấy chính là Thiên Chúa.

Paley còn thêm rằng: Ngay cả khi chúng ta chưa từng trực tiếp thấy một chiếc đồng hồ nào được chế tạo; hoặc khi chúng ta thấy một vài bộ phận trong chiếc đồng hồ đó làm việc không đúng chức năng; hoặc khi chúng ta chưa khám phá ra những chức năng của một vài bộ phận nào đó thì ta vẫn phải thừa nhận trí tuệ tạo ra nó. Như vậy, Paley cũng muốn nói rằng ngay cả khi ta không trực tiếp thấy Thiên Chúa tạo nên thế giới này; ngay cả khi ta thấy trong thế giới này còn có những điều “trục trặc”; và ngay cả khi còn có những điều trong thế giới ta chưa hiểu được chức năng ý nghĩa, vận hành của nó, thì ta vẫn phải thừa nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa.

Tóm lại theo Paley, giống như chiếc đồng hồ có cơ cấu các bộ phận vận hành phức tạp đòi hỏi phải có một người thợ tạo ra nó thì thế giới với hệ thống trật tự và vận hành tinh vi phức tạp cũng đòi hỏi phải có một Đấng Tạo Hóa là Thiên Chúa.

2). Những phê bình dành cho thiết kế luận
Luận chứng thiết kế được trình bày như trên thật gần gũi với kinh nghiệm quan sát của con người. Nó mang tính thực tế, dễ hiểu và xem ra thật thuyết phục, chắc chắn. Có lẽ vì thế mà tác giả Emanuel Kant, trong tác phẩm Phê Bình Lý Trí Thuần Túy, dù phản bác nhưng vẫn đánh giá cao luận chứng này và xem đây là lý chứng xứng đáng để kính cẩn giới thiệu, là lý chứng xưa nhất, rõ ràng nhất, thích hợp nhất cho trí khôn con người.[2] Tuy nhiên, quả thực luận chứng này vẫn có thể bị phê bình và bẻ gãy bởi những điểm yếu của nó.

Trước hết, điểm yếu cơ bản trong luận chứng của Paley chính là tiền giả định thế giới này giống như một sản phẩm nhân tạo, chiếc đồng hồ, với những cấu tạo trật tự mục đích mà khi nhìn vào đó người ta buộc phải quy gán cho một trí tuệ tạo ra nó. Chúng ta đồng ý rằng khi nhìn thấy một sản phẩm nhân tạo như chiếc đồng hồ ta không thể cho rằng nó đến từ tự nhiên. Chúng ta cũng đồng ý rằng thế giới này có những trật tự vận hành nhất định. Nhưng điều đó đâu nhất thiết buộc ta phải hình dung thế giới như một sản phẩm nhân tạo. Nếu ta có thể loại suy thế giới từ trật tự của chiếc đồng hồ cớ sao ta không thể loại suy thế giới từ trật tự của một “sản phẩm” tự nhiên, một loại động vật hay thực vật nào đó, như trong phê bình của David Hume đưa ra chẳng hạn?[3] Nếu như việc loại suy thế giới từ một sản phẩm nhân tạo, như chiếc đồng hồ, khiến ta phải quy gán việc tạo thành thế giới cho một trí tuệ có ý thức thì việc loại suy thế giới từ một sản phẩm tự nhiên, như một con vật hay một cái cây, sẽ khiến ta phải quy gán trật tự thế giới này là do tự nhiên! Như vậy, về mặt luận lý, luận chứng của Paley đã bị bẻ gãy.

Về mặt thực tiễn ta cũng thấy, không phải hễ cứ thấy vẻ trật tự của một điều gì đó thì buộc ta phải suy ra điều đó là do sự sắp đặt của một trí tuệ có ý thức. Trong thực tế, có khi ta thấy một dãy núi, một khối trầm tích, một cánh hoa mà chúng có hình thù một con vật hay một khuôn mặt người như thể có người tạo ra, nhưng ta vẫn biết chúng là do tự nhiên hình thành. Rõ hơn, cấu tạo vận hành và sự sinh trưởng của một cái cây, một cơ thể sống không khiến ta suy ra có người tạo ra chúng. Do đó việc thấy những trật tự của vũ trụ thế giới không buộc phải đồng nhất với việc quy gán cho một trí tuệ tạo thành.[4]

Cũng theo hướng bác bỏ sự quy gán đó, trong những phê bình của mình dành cho thiết kế luận, Hume đã lấy luận thuyết của Epicurean để nói rằng cả vũ trụ này bao gồm vô vàn những mảnh nhỏ chuyển động cách ngẫu nhiên. Theo thời gian những mảnh này đi qua mọi sự phối kết có thể. Và nếu sự kết hợp nào hình thành ổn định sẽ có thể được nhận biết và tạo ra trật tự vũ trụ như ta thấy hiện nay.[5] Nếu ta dùng lập luận này của Hume  để hình dung việc hình thành trật tự vũ trụ thế giới giống như thể việc người ta không ngừng cầm một nắm những nốt nhạc và chữ cái ném vào không trung để những nốt nhạc và chữ cái ấy rơi xuống ngẫu nhiên cho tới khi hình thành ra một một bài hát thật hay; hoặc một  mớ những dây cót, bánh răng, trục lăn không ngừng được ném lên không trung cho tới khi chúng rơi xuống và ngẫu nhiên hình thành một chiếc đồng hồ hoạt động được, thì chuyện quả là khó “tin”! Nhưng nếu ta hiểu luận thuyết này muốn nói việc hình thành trật tự thế giới vạn vật là một quá trình vạn vật tự thân biến đổi, thích nghi như thuyết tiến hóa chọn lọc tự nhiên của Dawin đưa ra, thì đó là điều hoàn toàn hợp lý. Khi Hume cho rằng thế giới này nên được loại suy từ một sinh vật hay động vật, thì giống như Dawin, ông cũng muốn nói trong chính nội tại thế giới này vốn có một năng lực sinh trưởng, tiến hóa, thích nghi và đi vào trật tự hài hòa. Loài chim sống trên trời thì hình thành cánh, loài cá sống ở nước thì hình thành mang, xương rồng trong sa mạc thì hình thành gai v.v. Tất cả là tự nhiên chứ không cần sự tác thành của Thiên Chúa. Thực ra luận thuyết tiến hóa tự nhiên này sẽ không thể bác bỏ được sự hiện hữu của Thiên Chúa nếu đáp trả được đưa ra là: Chính Đấng Tạo Hóa đã “cài đặt” trong nội tại thế giới vạn vật quy luật tiến hóa chọn lọc và thích nghi ấy; và Ngài để chúng được tự do vận động theo năng lực nội tại ấy. Tuy nhiên ở đây, lập luận tiến hóa tự nhiên đã đủ để phê bình khẳng quyết của Paley cho rằng trật tự thế giới nhất thiết phải là sản phẩm được chế tạo sắp xếp trực tiếp bởi Tạo Hóa.

Một điểm yếu khác nữa trong luận chứng của Paley đó là việc ông suy ra một Thiên Chúa từ những điều giới hạn của thế giới.[6] Hume đã phản biện Paley với lập luận: từ một hệ quả ta chỉ có thể suy ra một nguyên nhân thích hợp tương ứng. Cũng như việc nhìn vào một đĩa cân 10 kg trên cán cân thăng bằng ta phải suy ra đĩa cân bên kia có vật nặng 10 kg mà thôi chứ không thể hơn. Vì thế, từ một thế giới hữu hạn ta không thể suy ra một Tạo Hóa vô hạn; từ một thế giới đa dạng ta không  thể suy ra một Thiên Chúa duy nhất; từ một thế giới đầy rẫy sự dữ ta không thể thừa nhận một Thiên Chúa tuyệt đối tốt lành, khôn ngoan và quyền năng.[7] Lập luận này của Hume cũng không xác đáng. Bởi chẳng lẽ khi nhìn một người mang chiếc giỏ 10 kg làm sao ta có thể dám chắc rằng người mang nó chỉ có thể mang được 10 kg mà không có khả năng mang được nhiều hơn! Việc người đó có thể mang được nhiều hơn 10 kg với việc người đó chỉ mang 10 kg không hề mâu thuẫn. Cũng vậy, những hữu hạn, khiếm khuyết hay sự dữ của thế giới này không thể trở thành căn cứ để bác bỏ sự hiện hữu của một Thiên Chúa toàn năng.[8] Tuy nhiên, ta cũng không thể dựa vào việc một người mang được 10 kg để khẳng quyết rằng người đó có khả năng mang vác vô hạn! Khẳng quyết về Thiên Chúa dựa vào những giới hạn của thế giới như lập luận của Paley là một sơ hở.

Thiết kế luận-chứng minh sự hiện diện của Thiên Chúa?

 

7. Lập luận Thiết kế Thông minh (Argument from Design còn gọi là Intelligent Design) 

Tại sao người ta tin có Thượng đế? Đối với phần đông, câu trả lời nằm ở cách giải thích xuất phát từ lập luận Thiết kế Thông minh (Argument from Design còn gọi là Intelligent Design) cổ điển. Chúng ta nhìn nét đẹp và sự phức tạp của thế giới xung quanh – nhìn đoạn cong chịu gió của đôi cánh mỏng, nhìn nét tinh xảo của hoa và bướm, nhìn qua kính hiển vi mỗi một giọt nước trong hồ lúc nhúc sự sống, nhìn qua viễn vọng kính nét hùng vĩ của cây tùng bách. Chúng ta phản chiếu lại sự phức tạp điện tử và sự toàn vẹn thị giác của những con mắt đang nhìn. Nếu chúng ta có một chút tưởng tượng, những vật này sẽ đưa chúng ta đến nỗi sợ hãi và lòng tôn kính. Hơn nữa, chúng ta không thể không bị xúc động bởi sự tương tự hiển nhiên giữa các cơ quan có sự sống và các thiết kế được điều nghiên cẩn thận của các nhà kỹ sư.

Linh mục William Paley và kỷ thuật bên trong chiếc đồng hồ

Lập luận nổi tiếng nhất của linh mục William Paley được diễn giải bằng sự tương đồng với cái đồng hồ ở thế kỷ 18. Ngay cả nếu bạn không biết cái đồng hồ là gì, đặc điểm thiết kế rõ ràng của các khớp răng và lò xo, và làm sao để chúng bám vào nhau cho khít khao theo một mục đích, sẽ buộc bạn phải kết luận rằng, “cái đồng hồ phải có người làm ra nó, rằng phải có sự hiện hữu của một người hay nhiều người làm ra nó ở một thời điểm nào đó, tại một nơi chốn nào đó, có mục đích nào đó mà chúng ta cần tìm ra câu trả lời. Người làm đồng hồ biết kiến trúc của nó và đã thiết kế công dụng của nó.” Nếu điều đó là đúng đối với cái đồng hồ tương đối đơn giản thì phải chăng sẽ còn là đúng hơn không đối con mắt, cái tai, cái thận, cùi chỏ tay, bộ óc? Những kiến trúc mỹ miều, phức tạp, rắc rối, và hiển nhiên có mục đích phải có người thiết kế riêng, người làm đồng hồ hay Thượng đế.

Lập luận của Paley được diễn giải như vậy, và đó là lập luận mà hầu như mọi người biết suy nghĩ và nhạy cảm đều tự khám phá ở thời kỳ còn trẻ con. Trải qua hầu hết chiều dài của lịch sử, lập luận này đã tỏ ra hoàn toàn thuyết phục và hiển nhiên đúng. Và, tuy nhiên, như là kết quả của một trong những cuộc cách mạng tri thức bất ngờ, chúng ta ngày nay biết nó sai, hoặc ít nhất, nó không cần thiết. Chúng ta ngày nay biết rằng sự trật tự và hiển nhiên có mục đích của thế giới sinh vật đã xảy ra qua một tiến trình hoàn toàn khác, một tiến trình xảy ra không cần có người thiết kế, một tiến trình do kết quả của những định luật cơ bản rất đơn thuần vật lý. Đó là tiến trình tiến hóa bằng sự chọn lựa tự nhiên được phám phá bởi Charles Darwin, và, một cách độc lập, bởi Alfred Russel Wallace.

Mọi vật tưởng như có ai đã thiết kế thì có điều gì chung? Câu trả lời là một xác suất không thể xảy ra. Nếu chúng ta tìm thấy một hòn cuội được biển nhào nặn thành một mặt kiếng đơn giản, chúng ta không kết luận nó đã được thiết kế bởi thợ làm kiếng. Các định luật vật lý có khả năng đạt được điều đó mà không cần trợ giúp. Điều đó không phải là không thể xảy ra. Nếu chúng ta tìm thấy một mặt kiếng có hợp chất phức tạp hơn, được cẩn thận gọt dũa tròn trịa và điều chỉnh lại sai biệt mầu sắc, được tráng bằng lớp men để khỏi chói, và có khắc tên “Carl Zeiss” ở vòng ngoài, chúng ta biết nó không phải xảy ra do may mắn. Nếu bạn lấy tất cả những nguyên tử làm nên cái mặt kiếng phức tạp đó và tung lên dưới ảnh hưởng xô đẩy của các định luật vật lý bình thường trong thiên nhiên, có thể, trên lý thuyết, bằng một sự may mắn tuyệt đối, các nguyên tử sẽ rơi vào cái khung làm kiếng phức tạp Zeiss, và ngay cả cũng có thể các nguyên tử vòng ngoài sẽ rơi làm sao để có tên Carl Zeiss được khắc vào. Nhưng số lượng mà những nguyên tử có thể rơi cách khác thì lớn kinh khủng, lớn quá không thể đếm được đến mức độ mà chúng ta có thể bỏ qua giả định may mắn đó. May mắn rõ ràng là một sự giải thích không cần thắc mắc.

Dẫu vậy, đây không phải là lối lập luận lòng vòng. Nó có vẻ như lòng vòng bởi, có thể nói bằng sự nhận thức sau khi sự việc đã xảy ra, bất cứ sự sắp xếp nguyên tử nào cũng đều không thể xảy ra. Như đã có nói trước đây, khi quả banh rớt trên một ngọn cỏ riêng biệt trong sân chơi gôn, sẽ rất là ngớ ngẩn để thán phục rằng: “Có hàng tỉ ngọn cỏ để quả banh có thể rớt vào mà sao quả banh lại chỉ rớt trên ngọn cỏ này. Thực quá kỳ diệu như phép lạ!” Tính chất trá ngụy dĩ nhiên nằm ở chỗ quả banh bắt buộc phải rớt xuống một nơi nào đó. Chúng ta chỉ có thể ngạc nhiên thán phục một biến cố tưởng không thể xảy ra nếu chúng ta có xác định trước khi nó xảy ra, chẳng hạn, nếu một người bịt mắt, xoay vòng tròn ở điểm phát banh, rồi quất bừa quả banh và làm rớt banh ngay lỗ sân gôn ở lần quất đầu tiên. Điều đó mới thật đáng ngạc nhiên, thán phục bởi vì điểm đến của quả banh đã được xác định trước.

Có hàng ngàn tỉ cách khác nhau để những nguyên tử được sắp đặt làm thành viễn vọng kính, nhưng chỉ có một thiểu số để viễn vọng kính có thể sử dụng được. Chỉ có một thiểu số cực ít để có chữ Carl Zeiss được khắc trên đó, hoặc, thực vậy, để có những chữ có thể đọc được bằng ngôn ngữ của con người. Đối với cái đồng hồ thì cũng vậy: Có hàng tỉ cách để sắp xếp các nguyên tử, nhưng chỉ có một thiểu số cực ít có thể làm cho ta biết thời gian hoặc cho ta thấy nó hữu dụng. Và điều đó được áp dụng dĩ nhiên huống hồ cho những phần tử của một thân xác có sự sống. Có hàng tỉ tỉ cách sắp xếp khác nhau các phần trong một thân xác, nhưng chỉ có một thiểu số cực nhỏ có thể làm thân xác có thể sống, tìm thức ăn, ăn, và sinh sản. Đúng vậy, có nhiều phương cách sống – ít nhất cũng phải có 10 triệu phương cách nếu chúng ta đếm số các loại sinh vật khác nhau đang sống ngày nay – nhưng, dù là có nhiều phương cách sống khác nhau, điều chắc chắn rõ ràng rằng còn có rất nhiều phương cách chết hơn nữa.

Chúng ta có thể kết luận một cách chắc chắn rằng, thân xác có sự sống thì quá phức tạp – không thể có xác suất xảy ra – để có thể có sự sống bằng tuyệt đối may mắn. Vậy tại sao lại có sự sống? Câu trả lời là sự may mắn, nhưng không phải là sự may mắn độc nhất nguyên khối. Thật ra, những chuỗi từng bước may mắn cực nhỏ, đủ nhỏ để có thể tin là sản phẩm của những bước trước nó, đã xảy ra tuần tự liên tiếp. Những bước may mắn nhỏ này xảy ra do biến đổi di truyền, thay đổi hên xui – đích thị là những sai lầm – trong vật chất có di truyền. Chúng tạo nên những thay đổi trong cấu trúc thân thể. Phần đông những thay đổi này nguy hại và dẫn đến tử vong. Một thiểu số trong những thay đổi đó cải tiến thêm một chút, dẫn đến sự sinh tồn và sinh sản nhiều hơn. Bằng tiến trình chọn lựa tự nhiên này, những thay đổi hên xui đó lan đồng đều có lợi sang các chủng loại khác và trở thành tiêu chuẩn. Bây giờ đến phần thay đổi nhỏ kế tiếp trong tiến trình tiến hóa. Có thể nói, sau cả ngàn những thay đổi nhỏ liên tiếp này, mỗi thay đổi làm nên phần căn bản cho thay đổi kế tiếp, cái kết quả cuối cùng, bằng tiến trình tích lũy, đã trở thành quá phức tạp để có thể xảy ra bằng một động tác may mắn đơn lẻ.

Thí dụ, con mắt trên lý thuyết có thể thành hình bằng một bước may mắn duy nhất từ chỗ không có gì, hay chúng ta nói từ một miếng da thuần. Trên lý thuyết ở đây trong nghĩa công thức đã được viết ra dưới hình thức một số lớn biến đổi. Nếu tất cả những biến đổi này xảy ra cùng một lúc, một con mắt toàn vẹn, thực vậy, có thể thành hình từ không có gì. Nhưng mặc dù nó có thể xảy ra trên lý thuyết, nhưng nó không thể xảy ra trong thực tế. Số lượng may mắn trong tiến trình quá lớn. Cái công thức đúng đòi hỏi thay đổi cùng một lúc số lượng “gen” khổng lồ. Công thức đúng là sự kết hợp đặc biệt những thay đổi trong hàng tỉ những kết hợp may mắn có cùng xác suất như nhau. Chắc chắn chúng ta có thể loại bỏ sự trùng hợp ngẫu nhiên kỳ diệu như vậy. Nhưng hoàn toàn hợp lý để nói rằng con mắt hiện đại đã sinh ra từ một cái gì gần giống như con mắt hiện đại nhưng không phải hoàn toàn giống: từ một con mắt hơi hơi ít tinh vi hơn. Cũng bằng cách lý luận như vậy, con mắt hơi hơi ít tinh vi này được sinh ra từ một con mắt còn hơi hơi ít tinh vi hơn nữa, và cứ thế. Nếu bạn giả định một con số đủ lớn về những khác biệt nhỏ giữa các giai đoạn tiến hóa, bạn sẽ có thể có một con mắt phức tạp có thể sử dụng được từ một miếng da thuộc. Có bao nhiêu giai đoạn trung gian được phép đem ra để đặt thành định đề? Điều đó tùy thuộc chúng ta có bao nhiêu thời gian cho cuộc chơi. Liệu đã có đủ thời gian để con mắt có thể tiến hóa bằng những bước nhỏ từ không có gì chưa?

Các xương hóa thạch cho chúng ta biết sự sống trên trái đất đã phát triển trên 3.000 triệu năm nay. Hầu như trí óc con người không thể tưởng tưởng được một thời gian mênh mông dài như vậy. Chúng ta có khuynh hướng, một cách tự nhiên và khoan dung, nhìn tuổi thọ của chúng ta tương đối dài, nhưng chúng ta không kỳ vọng có thể sống đến một thế kỷ. Đức Giê-su đã sống cách nay 2.000 năm, một quãng thời gian đủ dài để làm mờ sự phân biệt giữa lịch sử và thần thoại. Bạn có thể tưởng tượng nỗi có một triệu giai đoạn thời gian như vậy nối tiếp nhau không? Giả định chúng ta muốn viết toàn thể lịch sử này trên một miếng giấy duy nhất. Nếu chúng ta nhồi nhét toàn thể lịch sử của Thời Đại Chung (Common Era) trên một mét giấy, phải cần bao nhiêu mét giấy kể từ Tiền Thời Đại Chung (pre-Common Era) ngược về cái mốc thời gian bắt đầu có tiến hóa? Câu trả lời là cái phần giấy cho Tiền Thời Đại Chung sẽ trải dài từ Milan tới Moscow. Bạn hãy nghĩ đến cái điều muốn nói trong sự giả định này để thấy số lượng thay đổi tiến hóa có thể được phù hợp. Tất cả các loại chó gia súc – từ chó Bắc Kinh, chó x, chó tai cụp, chó Thánh Bernard, và chó nhỏ có lông mượt – đã tiến hóa từ các loài chó sói trong khoảng thời gian từ nhiều trăm năm tới cao nhất là nhiều ngàn năm: không quá hai mét đường từ Milan tới Moscow. Bạn hãy suy nghĩ tới số lượng thay đổi khi tiến hóa từ con chó sói sang con chó Bắc Kinh, rồi nhân số lượng thay đổi đó với con số một triệu. Khi bạn nhìn điều đó theo cách thức như vậy, bạn sẽ thấy dễ dàng để tin rằng con mắt đã tiến hóa từ không có con mắt bằng những đổi thay nho nhỏ.

Vẫn còn cần thiết để chúng ta mới thỏa mãn, rằng mỗi một giai đoạn chuyển tiếp trên đường tiến hóa, chẳng hạn từ một miếng da thuộc tới con mắt hiện đại, phải có sự chọn lựa tự nhiên; phải có sự tiến bộ hơn cho những thời kỳ kế tiếp hoặc ít nhất phải có khả năng sinh tồn. Sẽ không có ích lợi gì khi chúng ta chứng minh trên lý thuyết rằng, một chuỗi những giai đoạn chuyển tiếp khác nhau có thể nhận thức được dẫn đến có con mắt nếu nhiều trong số những giai đoạn đó đã bị hủy diệt. Đôi khi chúng ta lý luận rằng mọi thành phần của con mắt phải có sẵn nếu không thì con mắt không thể hoạt động được. Lý luận tiếp tục rằng một nửa con mắt không tốt hơn không có con mắt. Bạn không thể bay với một nửa cánh; bạn không thể nghe với một nửa tai. Do đó, không thể có những chuỗi giai đoạn chuyển tiếp từng bước nối đuôi nhau để làm nên con mắt hiện đại, cái cánh, hay cái tai.

Lối lý luận này quá ngây thơ làm người ta có thể chỉ nghĩ đến động lực tiềm ẩn muốn người khác tin theo. Điều rõ ràng không đúng rằng một nửa con mắt thì vô dụng. Người bị bệnh đục nhân mắt có tròng mắt được giải phẫu lấy ra không thể nhìn thấy rõ nếu không có cặp kiếng, nhưng họ vẫn tốt hơn những người không có mắt. Không có tròng mắt, bạn không thể tập trung vào hình ảnh chi tiết, nhưng bạn có thể tránh đụng vào vật cản và bạn có thể thấy được bóng mờ của con thú săn mồi.

Lý luận rằng bạn không thể bay với một nửa cánh được phản chứng bởi một số lớn những động vật có thể bay là đà có hiệu quả, kể cả những loài động vật có vú khác nhau, như cắc kè, cóc nhái, rắn, hay mực ống. Những loại động vật khác nhau ở trên cây có cặp cánh bằng da nằm giữa những đoạn nối giống như một phần của cánh. Nếu bạn té từ trên cây, bất cứ phần da cánh tăng thêm diện tích phần mặt của thân có thể cứu bạn. Và, mặc dù phần cánh của bạn nhỏ hay lớn, luôn luôn phải có một chiều cao tối thiểu để nếu bạn té từ trên cây cao, bạn được cứu sống nhờ một chút diện tích thêm ở bề mặt. Và rồi, khi những con cháu của bạn phát triển thêm diện tích bề mặt đó, chúng sẽ thoát hiểm nếu rớt từ những cây cao hơn một chút. Và cứ như vậy, bằng những bước tiến không thể nhận thấy cho đến khi, hằng trăm thế hệ sau, chúng ta có được cặp cánh đầy đủ.

Mắt và cánh không thể hiện hữu bằng một bước duy nhất. Điều đó giống như phải có may mắn vô tận để đạt được sự sắp xếp các con số cho việc mở cửa một nhà băng lớn. Nhưng nếu bạn cứ quay số hên xui, và mỗi lần bạn tới gần hơn con số may mắn để khung cửa kẽo kẹt hé mở thêm, bạn sẽ có cửa mở không bao lâu.

Căn bản, đó là bí mật làm sao sự tiến hóa đạt được cái điều mà có vẻ như không thể đạt được. Các vật không thể đến rõ ràng từ những vật trước rất khác nhau, nhưng có thể đến rõ ràng từ những vật trước hơi hơi khác nhau. Chỉ cần có một chuỗi dài những vật trước hơi hơi khác nhau đó, bạn có thể thấy nguồn gốc bất cứ vật nào từ bất cứ cái gì khác.

Như vậy, sự tiến hóa trên lý thuyết có thể làm cái việc mà ngày xưa được xem như đặc quyền của Thượng đế. Nhưng có bằng chứng là sự tiến hóa đã xảy ra không? Câu trả lời là có; bằng chứng thì đầy rẫy. Hàng triệu xương hóa thạch được tìm thấy tại địa điểm và độ sâu chính xác mà chúng ta nên kỳ vọng đã có tiến hóa xảy ra. Không có một xương hóa thạch nào được tìm thấy ở bất cứ địa điểm nào cho thấy thuyết tiến hóa đã không xảy ra như kỳ vọng, mặc dù điều như vậy có thể dễ dàng có: chẳng hạn như một xương hóa thạch trong đá của loài có vú ở thời xưa khi các con cá chưa đến đó đủ để phản biện thuyết tiến hóa.

Kiểu mẫu phân phối động vật và thực vật trên lục địa và các hòn đảo trên thế giới thì chính xác như được kỳ vọng rằng chúng tiến hóa từ những ông tổ chung bằng những bước chậm và từ từ. Các kiểu giống nhau giữa các động vật và các thực vật thì chính xác như chúng ta kỳ vọng rằng nhóm này có họ hàng gần, và nhóm khác có họ hàng xa với nhau. Sự kiện mật mã di truyền đều giống nhau trong mọi sinh vật cho chúng ta thấy một cách thuyết phục rằng tất cả đều có chung một ông tổ duy nhất. Bằng chứng về thuyết tiến hóa thì quá thuyết phục đến nỗi chỉ có một cách duy nhất để duy trì thuyết Sáng tạo bằng giả định rằng, Thượng đế đã cố tình để lại những lượng bằng chứng khổng lồ làm có vẻ như sự tiến hóa đã xảy ra. Nói cách khác, các xương hóa thạch, sự phân phối động vật trên lục địa, v/v… là tất cả một trò lừa bịp vĩ đại về niềm tin. Có ai muốn tôn thờ một Thượng đế có khả năng làm chuyện lừa bịp như vậy? Chắc chắn còn đáng tôn kính hơn và còn cảm thấy khoa học hơn bằng cách nhìn ngay giá trị của bằng chứng. Mọi sinh vật đều có họ hàng anh em với nhau đã đến từ một ông tổ xa xưa sống trên 3.000 triệu năm trước.

Lập luận Thiết Kế Thông Minh như là một lý do để tin có Thượng đế như vậy đã bị đánh đổ. Có còn một lập luận nào khác không? Có người tin Thượng đế vì họ cảm thấy như có thần khải nội tâm. Thần khải kiểu đó không phải luôn luôn có giá trị khai trí, nhưng họ cảm thấy rõ ràng như thực đối với người có quan tâm. Nhiều người điên khùng ở viện tế bần có một niềm tin nội tâm không thể lay chuyển, rằng họ là hoàng đế Nã Phá Luân hoặc, đúng thực, họ chính là Thượng đế. Không có gì để nghi ngờ về uy lực của niềm tin đối với những người có nó, nhưng không có lý do gì cho toàn thể những người còn lại như chúng ta tin theo họ. Thực vậy, bởi vì những niềm tin như vậy mâu thuẫn nhau, chúng ta không thể tin tất cả.

Cần phải nói thêm một chút nữa. Sự tiến hóa bằng chọn lựa tự nhiên giải thích nhiều điều, nhưng tiến hóa không thể bắt đầu từ không có gì. Tiến hóa không thể bắt đầu cho đến khi có một hệ thống sinh sản và di truyền thô sơ nào đó. Di truyền hiện đại được dựa trên mật mã di truyền (DNA code) quá phức tạp để có thể tự sinh qua một động tác may mắn đơn thuần. Điều đó có vẻ như phải có một hệ di truyền trước, bây giờ đã biến mất. Hệ di truyền đó đơn giản đủ để tự sinh nhờ may mắn và nhờ các định luật hóa học, và nó đã cung cấp môi trường để một hình thức chọn lựa tích lũy tự nhiên ban đầu có thể khởi sự. Mật mã di truyền sau đó là sản phẩm của sự chọn lựa tích lũy trước. Trước khi có sự chọn lựa tự nhiên đầu tiên này, đã có thời đại mà những hợp chất hóa học được thành lập từ những hợp chất đơn giản hơn, tuân theo những định luật đã được hiểu một cách rõ ràng của vật lý. Trước đó nữa, mọi thứ chủ yếu đều phát xuất từ nguyên tử hydrogen nguyên chất ngay sau vụ nổ lớn, là cái đã khởi thành vũ trụ.

Có một sự thôi thúc để lập luận rằng, mặc dù không cần Thượng đế để giải thích sự tiến hóa của một trật tự phức tạp một khi vũ trụ đã khởi sự với những định luật vật lý căn bản của nó, chúng ta vẫn cần đến một Thượng đế để giải thích nguồn gốc của mọi sự vật. Ý tưởng này không có dành cho Thượng đế làm nhiều điều: chỉ việc tạo ra vụ nổ lớn, rồi ngồi đó và chờ đợi mọi sự xảy ra. Nhà vật lý và hóa học Peter Atkins, trong cuốn sách viết rất hay của ông, Sự sáng tạo, quy định một Thượng đế lười biếng đã làm việc ít nhất có thể để khởi sự mọi thứ. Atkins giải thích từng bước của lịch sử vũ trụ tiếp nối nhau bằng định luật vật lý đơn giản. Như vậy, ông đã xén dần số lượng việc làm mà một Thượng đế lười biếng cần làm và cuối cùng kết luận rằng, thực vậy, Thượng đế chẳng cần để làm bất cứ một điều gì.

Chi tiết thời kỳ nguyên thủy của vũ trụ thuộc lãnh vực của Vật lý học, trong khi tôi là một nhà sinh vật, chú tâm nhiều hơn ở những thời kỳ sau với sự tiến hóa phức tạp. Đối với tôi, điều quan trọng là, ngay cả nếu nhà vật lý cần qui định một tối thiểu không thể nhỏ hơn nữa, là thứ đã hiện hữu từ buổi ban đầu để vũ trụ có thể khởi sự, cái tối thiểu không thể nhỏ hơn đó chắc chắn phải đơn giản kinh khủng. Do định nghĩa, sự giải thích dựa trên những tiền đề đơn giản thì hợp lý và thỏa mãn hơn sự giải thích dựa trên những tiền đề phức tạp bắt đầu bằng một xác suất không thể xảy ra. Và bạn không thể có thứ gì phức tạp hơn một Thượng đế toàn năng.

https://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=5013

 

8. Luận chứng Kalam

Từ Kalam trong tiếng Ả Rập nghĩa đen là “diễn thuyết,” nhưng nó biểu thị một loại thần học thuộc lãnh vực triết học nào đó – chứa đựng những chứng minh cho rằng thế giới này không thể có từ muôn thuở, vì thế nó phải được Thiên Chúa tạo nên. Kiểu chứng minh này có sức lôi cuốn lớn lao và lâu đời cho người Kitô hữu lẫn người Hồi giáo. Hình thức của nó thì đơn giản và dễ hiểu.

1. Bất cứ cái gì bắt đầu tồn tại đều có một nguyên nhân để nó đi vào hiện hữu.

2. Vũ trụ đã bắt đầu tồn tại.

3. Vì vậy, vũ trụ có một nguyên nhân để nó đi vào hiện hữu.

Chúng ta thừa nhận tiền đề đầu tiên. (Hầu hết mọi người (ngoại trừ những người trong nhà thương điên), thậm chí cả người vô học, xem nó không chỉ đúng nhưng chắc chắn và hiển nhiên đúng.)

Tiền đề thứ hai có đúng không? Phải chăng vũ trụ – tập hợp mọi sự vật bị giới hạn bởi không gian và thời gian – đã bắt đầu tồn tại? Tiền đề này gần đây đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ khoa học tự nhiên – từ cái gọi là vũ trụ luận Big Bang. Nhưng cũng có những tranh luận triết học ngay trong chính sự ủng hộ đó. Liệu rằng một nhiệm vụ vô hạn có bao giờ có thể được thực hiện hoặc hoàn tất hay không? Để đạt được một mục đích nhất định, nếu có nhiều vô cùng những bước phải đứng trước đó, thì có thể đến bao giờ mới đạt được mục đích? Tất nhiên câu trả lời là không, không ngay cả với một thời gian vô hạn. Vì một thời gian vô hạn sẽ không có kết thúc, tương tự như các bước. Nói cách khác, không bao giờ đạt được mục đích. Nhiệm vụ sẽ không bao giờ hoặc có thể bao giờ được hoàn tất.

Nếu vũ trụ luôn luôn đã là như thế, thì nó có từ muôn thuở. Nếu nó có từ muôn thuở, thì một lượng vô hạn về thời gian sẽ phải đã trôi qua trước ngày hôm nay. Và vì vậy một lượng vô hạn ngày đã phải được hoàn tất – ngày này tiếp nối ngày kia, một chút thời gian được thêm vào những gì đã đi trước, để cho ngày hiện tại đến. Nhưng điều này hoàn toàn tương ứng với vấn đề nhiệm vụ vô hạn.

https://dongten.net/2012/08/16/ho-giao-cac-luan-chung-ve-su-hien-huu-cua-thien-chua/

 

9. Kurt Gödel[edit]

Main article: Gödel’s ontological proofMathematician Kurt Gödel provided a formal argument for God’s existence. The argument was constructed by Gödel but not published until long after his death. He provided an argument based on modal logic; he uses the conception of properties, ultimately concluding with God’s existence.[33]

Definition 1: x is God-like if and only if x has as essential properties those and only those properties which are positive
Definition 2: A is an essence of x if and only if for every property B, x has B necessarily if and only if A entails B
Definition 3: x necessarily exists if and only if every essence of x is necessarily exemplified
Axiom 1: If a property is positive, then its negation is not positive
Axiom 2: Any property entailed by—i.e., strictly implied by—a positive property is positive
Axiom 3: The property of being God-like is positive
Axiom 4: If a property is positive, then it is necessarily positive
Axiom 5: Necessary existence is positive
Axiom 6: For any property P, if P is positive, then being necessarily P is positive
Theorem 1: If a property is positive, then it is consistent, i.e., possibly exemplified
Corollary 1: The property of being God-like is consistent
Theorem 2: If something is God-like, then the property of being God-like is an essence of that thing
Theorem 3: Necessarily, the property of being God-like is exemplified

Gödel defined being “god-like” as having every positive property. He left the term “positive” undefined. Gödel proposed that it is understood in an aesthetic and moral sense, or alternatively as the opposite of privation (the absence of necessary qualities in the universe). He warned against interpreting “positive” as being morally or aesthetically “good” (the greatest advantage and least disadvantage), as this includes negative characteristics. Instead, he suggested that “positive” should be interpreted as being perfect, or “purely good”, without negative characteristics.[34]Gödel’s listed theorems follow from the axioms, so most criticisms of the theory focus on those axioms or the assumptions made. Oppy argued that Gödel gives no definition of “positive properties”. He suggested that if these positive properties form a set, there is no reason to believe that any such set exists which is theologically interesting, or that there is only one set of positive properties which is theologically interesting.[33]
https://en.wikipedia.org/wiki/Ontological_argument#Kurt_G%C3%B6del

 

Leave Comments

Scroll